Án lao đông – dân sự

PHẦN I – PHẦN NỘI DUNG

 

I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN TRANH CHẤP VỀ TRƯỜNG HỢP BỊ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG – HỒ SƠ LS.DS – LĐ 01/DAL4

(VỚI TƯ CÁCH LÀ LUẬT SƯ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN – ÔNG PHẠM XUÂN DƯƠNG)

 

1. Nguyên đơn: Phạm Xuân Dương, Cán bộ giám sát, trưởng Ban quản lý dự án chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp (ASPS-NMU) – Bộ NN và Phát triển nông thôn.

Mang CMTND số: 011651891, do công an Hà Nội cấp ngày 19/9/1989

Hộ khẩu thường trú: số 22 Nguyễn Thái Học – Ba Đình – Hà Nội

2. Bị đơn: Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN và Phát triển nông thôn.

Địa chỉ: số 2  Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Xuân Xanh, Chức vụ: Trưởng Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN&PTNT.

3. Người có quyền và nghĩa vụ liện quan:

  1. Ông Nguyễn Thế Hinh, Điều phối viên quốc gia Dự án chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp (ASPS) thuộc Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN&PTNT.
  2. Ông Ole Sparre Perdersen, Cố vấn dự án chương trình Hỗ trợ ngành nông nghiệp (ASPS) thuộc Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN&PTNT.
  3. Ông Đào Văn Kháng, Chủ tịch Công đoàn BQLCDANN kiêm Phó trưởng ban BQLCDANN.

 

 

Diễn biến vụ việc như sau:

 

Căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên được ký kết ngày 01/12/2004 giữa ông Phạm Xuân Dương với ông Dương Văn Xanh và ông Ole Sparre Perdersen, ngày 15/12/2004 Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN&PTNT ( viết tắt là BQLCDANN) đã ký kết hợp đồng lao động (viết tắt là HĐLĐ) với ông Phạm Xuân Dương với nội dung: BALCDANN đồng ý và chấp thuận anh Phạm Xuân Dương vào làm việc tại Ban quản lý quốc gia (National Management Unit, sau đây gọi tắt là “NMU”) của dự án Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp – (Agricultural Sector Programe Support, sau đây gọi tắt là “ASPS”) thuộc BQLCDANN với vị trí là cán bộ giám sát trưởng của Chương trình có tham gia BHXH, BHYT và trích nộp thuế thu nhập cá nhân. (BL.3,4 ký thỏa thận; BL. 44, 45, 49, 50, 60, 61, 62, 67 Hinh thừa nhận ký HĐLĐ ngày 15/12/2005, BL. 58 Xanh thừa nhận có ký HĐLĐ với tư cách là BQLCDANN.

 

Ngày 30/8/2005, ông Nguyễn Thế Hinh, điều phối viên quốc gia thuộc BQLCDANN và ông Ole Sparre Perdersen, cố vấn trưởng Chương trình người nước ngoài ra văn bản thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh Phạm Xuân Dương với lý do năng lực và trình độ của anh Dương không đáp ứng được các điều kiện công việc được giao. (BL.5).

 

Ngày 31/8/2005 anh Phạm Xuân Dương có đơn kiến nghị gửi Thứ trưởng Bộ NN & PTNT, Vụ trưởng vụ quan hệ Quốc tế của Bộ và Trưởng ban BQLCDANN về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không thỏa đáng (BL.20). Tại văn bản ngày …tháng 10 năm 2005 ông Dương Văn Xanh có thừa nhận đã nhận được đơn ngày 31/8/2005 và đơn ngày 17/10/2005 của anh Dương (BL.17).

 

Ngày 20/9/2005 anh Phạm Xuân Dương đã ủy quyền chính thức cho luật sư Trần Viêt Thanh – Văn phòng luật sư INDOCHINA thay mặt tham gia đàm phán, hòa giải với phía đại diện người sử dụng lao động (lãnh đạo BQLCDANN) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Dương theo đúng trình tự pháp luật.

Ngày 07/10/2005 Luật sự Trần Việt Thanh đã có buổi làm việc với ông Dương Văn Xanh, Nguyễn Thế Hinh cuộc họp không được phía BQLCDANN ký biên bản,cuộc họp chưa thống nhất được hướng giải quyết (BL.17)

 

Ngày 17/10/2005 anh Phạm Xuân Dương có văn bản khiếu nại gửi Thứ trưởng Bộ NN & PTNT, Vụ trưởng vụ quan hệ Quốc tế của Bộ, Trưởng ban BQLCDANN và Chủ tịch công đoàn BQLCDANN về việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Trong đơn anh Dương đề nghị Ban chấp hành công đoàn có biện pháp bảo vệ người lao động và đề nghị BQLCDANN trả lời giải quyết dứt điểm trường hợp anh Dương bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ và anh Dương cũng đã thông báo nếu đến hết ngày 31/12/2005 mà anh không nhận được văn bản trả lời giải quyết thì anh sẽ khởi kiện (BL.6).

 

Ngày 25/10/2005 Văn phòng Luật sư INDOCHINA có văn bản gửi Thứ trưởng, Trưởng ban BQLCDANN và chủ tịch Công đoàn BQLCDANN đề nghị ban chấp hành công đoàn sớm có biện pháp bảo vệ người lao động Phạm Xuân Dương (BL.16).

 

Ngày 30/10/2005 ông Kháng có văn bản trả lời không rõ rang vì ông cho rằng Văn phòng luật sư không phải là cấp trên của công đoàn nên công đoàn sẽ giải quyết khi có thể.

 

Ngày 03/11/2005 Van phòng luật sư INDOCHINA có văn bản gửi Ông Nguyễn Thế Hinh, Điều phối viên quốc gia chương trình ASPS và Ông Ole Sparre Perdersen, Điều phối viên Danida – ASPS về việc đề nghị tổ chức một cuộc họp để giải quyết trường hợp của anh Dương, tuy nhiên ông Hinh không đồng ý vì lý do bận (BL.12).

 

V ì Ban lãnh đạo BQLCDANN và lãnh đạo Ban chấp hành công đoàn không giải quyết thỏa đáng nên ngày 20/11/2005 anh Phạm Xuân Dương đã khởi kiện BQLCDANN ra trước TAND Quận Ba Bình, Tp. Hà Nội về việc BQLCDANN đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật đối với anh. (BL.1)

Tuy nhiên do tru sở của BQLCDANN đã chuyển đến số 1A Nguyễn Công Trứ, quận Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội nên ngày 01/06/2006 Tòa án Nhân dân quận Ba Đình đã có quyết định số 02/2006/QĐC-VA chuyển vụ án sang Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng. (BL.53)

 

Ngày 03/07/2006 TAND Quận Hai Bà Trưng đã thụ lý vụ án số 09/2006/TLLĐ-ST (BL.66)

 

Theo nội dung đơn khời kiện ban đầu, anh Phạm Xuân Dương cho rằng hành vi của BQLCDANN đã vi phạm pháp luật về lao động, cụ thể là: vi phạm các Điều 38 của Luật lao động, Điều 1 điểm 8 Luật lao động sửa đổi và Điều 12 Nghị định 44/2003/NĐ-CP (các hành vi vi phạm liên quan đến căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động, nghĩa vụ báo trước và thủ tục chất dứt theo quy định của Luật lao động) và có yêu cầu BQLCDANN phải tiến hành bồi thường và thanh toán những khoản như sau:

–         Về khoản tiền trợ cấp mất việc làm:

+ Yêu cầu BQLCDANN tiến hành thanh toán tiền trợ cấp mất việc làm. Khoản tiền này được tính kể từ thời điểm mất việc làm (thời điểm thông báo) cho tới thời điểm kết thúc hợp đồng lao động (từ ngày 31/8/2005 đến 15/12/2005 là 3,5 tháng. Cụ thể như sau: lương và các khoản phụ cấp (theo hợp đồng lao động) 650USD/tháng * 15.901 (tỷ giá) * 3,5 tháng = 36.174.775 đồng.

+ Cùng với một khoản tiền tương đương với 02 tháng lương: 650USD/tháng * 15.901 (tỷ giá) * 2 tháng = 20.671.300 đồng.

+ Tổng cộng số tiền trợ cấp mất việc làm là: 36.174.775 đồng + 20.671.300 đồng = 56.846.075 đồng.

Về khoản bồi thường thiệt hại: Yêu cầu BQLCDANN tiến hành bồi thường cho tôi khoản tiền tương đương với 05 tháng lương do vi phạm nghĩa vụ báo trước và các chi phí cơ hội khác để tìm việc làm mới: 650USD/tháng * 15.901 (tỷ giá) * 5 tháng = 51.678.250 đồng.

 

Tổng số tiền anh Dương yêu cầu phía BQLCDANN phải thanh toán là: 56.846.075 đồng + 51.678.250 đồng = 108.524.000 đồng .

Tuy nhiên, trong biên bản hòa giải ngày 30/01/2007 tại TAND Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội anh Phạm Xuân Dương đã thay đổi yêu cầu trong đơn khởi kiện ban đầu, cụ thể anh Dương có những yêu cầu như sau:

 

Thứ nhất:

Buộc BQLCDANN phải bồi thường một tiền lương trong những ngày anh Dương không được làm việc là 3,5 tháng lương (tính từ ngày 31/08/2005 đến tháng 15/12/2005 và một nửa tháng lương thứ 13 cùng với bồi thường 2 tháng lương. Tổng cộng là yêu cầu bồ thường 6 tháng lương, cụ thể: 650 USD x 6 tháng tính theo tỉ giá hiện tại quy ra là 85.000.000đ (Tám lăm triệu đồng VNĐ).

 

Thứ hai:

Buộc BQLCDANN phải đóng BHXH,BHYT từ ngày 15/12/2004 đến hết 15/12/2005.

 

Sau nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng không thành, ngày 16/10/2009 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

 

4. Về vấn đề pháp lý:

– Quan hệ pháp luật đang tranh chấp: Đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.

– Văn bản pháp luật áp dụng: Bộ luật tố tụng dân sự; Bộ luật lao động; Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 05 năm 2003 của Chính phủ; Thông tư 21/2003/TTBLĐTBXH ngày 22/09/2003 hướng dẫn Nghị định 44/2003/NĐ-CP.

– Hợp đồng lao động ngày 15/12/2004. Nghị định số 04/2005/NĐ-CP ngày 11/01/2005 của Chính phủ về việc qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về khiếu nại, tố cáo về lao động.

 

 

II. KẾ HOẠCH HỎI:

 

1. Hỏi đại diện của bị đơn: ông Dương Văn Xanh.

– Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp (ASPS) có mối liên hệ như thế nào với BQLCDANN? Trong cơ cấu tổ chức ASPS có phải là một bộ phận trực thuộc BQLCDANN?

– Khi ký văn bản ngày 01/12/2005 để nhận anh Dương vào làm việc thì ông đang giữ chức vụ gì trong BQLCDANN?

– Ông hãy cho biết đối với một pháp nhân là BQLCDANN khi ký kết hợp đồng lao động thì do ai có thẩm quyền ký?

– Văn bản được ông cho là hợp đồng lao động ký ngày 01/12/2005 mà không có con dấu và không tuân thủ các điều khoản theo Điều 26 và 29 BLLĐ thì có sử dụng được trong việc đăng ký sử dụng lao động, tham gia BHXH, BHYT không?

– Ngày 15/12/2005 BQLCDANN ký hợp đồng lao động với anh Phạm Xuân Dương và có giao cho anh Dương một bản hay không?

– Khi nhận được đơn của anh Phạm Xuân Dương ngày 31/08/2005 ông đã biết anh Dương đã bị ông Hinh và ông Ole Sparre Perdersen thông báo chấm dứt hợp đồng lao động, tại sao ông không trả lời dứt khoát về việc anh Dương được tiếp tục làm việc hay nghỉ việc?

 

2. Hỏi nguyên đơn (thân chủ)

– Trong quá trình làm việc anh có được trích nộp tiền lương để đóng BHXH, BHYT và nộp thuế thu nhập không?

– Ngày 04/09/2005 anh được yêu cầu bàn giao phòng làm việc và chìa khóa phòng cho ai? Ai là người ra yêu cầu?

 

3. Hỏi người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

 + Ông Đào Văn Kháng:

– Là người làm công tác công đoàn và đang giữ vị trí là Chủ tịch Công đoàn BQLCDANN, tai sao khi nhận được đơn khiếu nại của anh Dương ngày 17/10/2005 và văn bản của văn phòng luật sư INDOCHINA ngày 25/10/2005 ông có bàn bạc thống nhất ý kiến với Ban chấp hành công đoàn hay không?

– Tại sao trong các văn bản trả lời ông chỉ nhân danh cá nhân mà không phải là nhân danh Công đoàn của BQLCDANN?

 

+ Ông Nguyễn Thế Hinh:

– Ông hãy cho biết ông có được ủy quyền về việc tuyển dụng, bố trí và cho thôi việc người lao động trong dự án ASPS thuộc BQLCDANN không?

– Tại cuộc họp ngày 31/08/2005 về việc thông báo chấm dựt hợp đồng lao động với anh Phạm Xuân Dương do ông chủ trì có mời đại diện Ban chấp hành Công đoàn tham dự không?

– Ông dựa trên cơ sở pháp lý nào để cho rằng văn bản ký kết giữa ông Dương Văn Xanh và ông Ole Sparre Pederssen với anh Phạm Xuân Dương ngày 01/12/2004 là hợp đồng lao động?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III. BÀI LUẬN CỨ BẢO VỆ:

 

Kính thưa Hội đồng xét xử

Kính thưa các vị luật sư đồng nghiệp.

 

Tôi tên Mai Xuân Minh, luật sư của Văn phòng Luật sư A – Đoàn Luật sư Tp. Hồ Chí Minh. Theo đề nghị của anh Phạm Xuân Dương – nguyên đơn trong vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa Ban quản lý các dự án nông nghiệp và anh Phạm Xuân Dương là cán bộ giám sát của Ban, tôi có mặt tại phiên tòa hôm nay với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và sau đây tôi xin trình bày các luận cứ bảo vệ cho thân chủ của tôi như sau:

 

Thưa Hội đồng xét xử!

 

Trước tiên để làm rõ quan hệ pháp luật lao động đang tranh chấp là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, tôi xin tóm tắt ngắn gọn nội dung vụ án và phân tích, làm rõ các quan hệ lao động giữa anh Phạm Xuân Dương với Ban quản lý các dự án nông nghiệp (gọi tắt là BQLCDANN) và sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đang tranh chấp đồng thời làm rõ tư cách pháp lý của các bên như sau:

 

Căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên được ký kết ngày 01/12/2004 giữa ông Phạm Xuân Dương với ông Dương Văn Xanh và ông Ole Sparre Perdersen, ngày 15/12/2004 Ban quản lý các dự án Nông nghiệp – Bộ NN&PTNT ( viết tắt là BQLCDANN) đã ký kết hợp đồng lao động (viết tắt là HĐLĐ) với ông Phạm Xuân Dương với nội dung: BALCDANN đồng ý và chấp thuận anh Phạm Xuân Dương vào làm việc tại Ban quản lý quốc gia (National Management Unit, sau đây gọi tắt là “NMU”) của dự án Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp – (Agricultural Sector Programe Support, sau đây gọi tắt là “ASPS”) thuộc BQLCDANN với vị trí là cán bộ giám sát trưởng của Chương trình có tham gia BHXH, BHYT và trích nộp thuế thu nhập cá nhân. (BL.3,4 ,44, 45, 49, 50, 60, 61, 62, 67).

Ngày 30/8/2005, ông Nguyễn Thế Hinh, điều phối viên quốc gia thuộc BQLCDANN và ông Ole Sparre Perdersen, cố vấn trưởng Chương trình người nước ngoài ra văn bản thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh Phạm Xuân Dương với lý do năng lực và trình độ của anh Dương không đáp ứng được các điều kiện công việc được giao. (BL.5).

Ngày 31/8/2005 anh Phạm Xuân Dương có đơn kiến nghị gửi Thứ trưởng Bộ NN & PTNT, Vụ trưởng vụ quan hệ Quốc tế của Bộ và Trưởng ban BQLCDANN về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không thỏa đáng (BL.20). Tại văn bản ngày …tháng 10 năm 2005 ông Dương Văn Xanh có thừa nhận đã nhận được đơn ngày 31/8/2005 và đơn ngày 17/10/2005 của anh Dương (BL.17).

Ngày 20/9/2005 anh Phạm Xuân Dương đã ủy quyền chính thức cho luật sư Trần Viêt Thanh – Văn phòng luật sư INDOCHINA thay mặt tham gia đàm phán, hòa giải với phía đại diện người sử dụng lao động (lãnh đạo BQLCDANN) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Dương theo đúng trình tự pháp luật.

Ngày 07/10/2005 Luật sự Trần Việt Thanh đã có buổi làm việc với ông Dương Văn Xanh, Nguyễn Thế Hinh cuộc họp không được phía BQLCDANN ký biên bản, cuộc họp chưa thống nhất được hướng giải quyết (BL.17)

Ngày 17/10/2005 anh Phạm Xuân Dương có văn bản khiếu nại gửi Thứ trưởng Bộ NN & PTNT, Vụ trưởng vụ quan hệ Quốc tế của Bộ, Trưởng ban BQLCDANN và Chủ tịch công đoàn BQLCDANN về việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Trong đơn anh Dương đề nghị Ban chấp hành công đoàn có biện pháp bảo vệ người lao động và đề nghị BQLCDANN trả lời giải quyết dứt điểm trường hợp anh Dương bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ và anh Dương cũng đã thông báo nếu đến hết ngày 31/12/2005 mà anh không nhận được văn bản trả lời giải quyết thì anh sẽ khởi kiện (BL.6).

Ngày 25/10/2005 Văn phòng Luật sư INDOCHINA có văn bản gửi Thứ trưởng, Trưởng ban BQLCDANN và chủ tịch Công đoàn BQLCDANN đề nghị ban chấp hành công đoàn sớm có biện pháp bảo vệ người lao động Phạm Xuân Dương (BL.16).

Ngày 30/10/2005 ông Kháng có văn bản trả lời không rõ rang vì ông cho rằng Văn phòng luật sư không phải là cấp trên của công đoàn nên công đoàn sẽ giải quyết khi có thể.

Ngày 03/11/2005 Văn phòng luật sư INDOCHINA có văn bản gửi Ông Nguyễn Thế Hinh, Điều phối viên quốc gia chương trình ASPS và Ông Ole Sparre Perdersen, Điều phối viên Danida – ASPS về việc đề nghị tổ chức một cuộc họp để giải quyết trường hợp của anh Dương, tuy nhiên ông Hinh không đồng ý vì lý do bận (BL.12).

 

V ì Ban lãnh đạo BQLCDANN và lãnh đạo Ban chấp hành công đoàn không giải quyết thỏa đáng nên ngày 20/11/2005 anh Phạm Xuân Dương đã khởi kiện BQLCDANN ra trước Tòa án về việc BQLCDANN đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật đối với anh. (BL.1) và có yêu cầu:

– Được nhận đầy đủ 6 tháng lương của tôi từ tháng 9/2005 đến tháng 12/2005 (bao gồm 3.5 tháng lương và tiền một nửa tháng lương thứ 13 và 2 tháng lương hỗ trợ mất việc làm). Cụ thể: 650 USD x 6 tháng quy ra tiền Việt 85.000.000đ (Tám lăm triệu đồng VNĐ).

– Yêu cầu được đóng bảo hiểm đến hết hợp đồng ký tiếp 15/12/2004 đến hết 15/12/2005.

 

Như vậy, qua nội dung vụ án được trình bày ở trên, tôi nhận thấy cần làm rõ một số vấn đề sau:

 

Thứ nhất: về quan hệ hợp đồng lao động giữa anh Phạm Xuân Dương và BQLCDANN.

Giữa anh Phạm Xuân Dương và BQLCDANN thực tế đã phát sinh quan hệ hợp đồng lao động, cụ thể ngày 01/12/2004 hai bên đã ký một văn bản, theo đó anh Phạm Xuân Dương được nhận vào làm việc tại Ban quan lý dự án quốc gia của dự án Chương trình hỗ trợ nông nghiệp thuộc BQLCDANN với mức lương là 650 đô la Mỹ mỗi tháng với chức danh là cán bộ giám sát (xem bút lục 3,4), sau đó ngày 15/12/2005 BQLCDANN và anh Phạm Xuân Dương đã ký kết hợp đồng lao động theo quy định của Pháp luật lao động và có tham gia BHXH, BHYT, nộp thuế thu nhập cá nhân như nội dung trình bày của các ông Dương Văn Xanh tại các bút lục 58 và ông Nguyễn Thế Hinh tại các bút lục 44, 45, 49, 50, 60, 61, 62, 67.

 

Thứ hai: Về tư cách chủ thể của BQLCDANN trong quan hệ hợp đồng lao động:

Quyết định số 100/1999/QĐ/BNN-TCCB ngày 03/07/1999 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Điều 4 đã xác nhận BQLCDANN là một pháp nhân do nhà nước thành lập. Tại Điều 5 quy định về cơ cấu tổ chức như sau:

“Tổ chức bộ máy quản lý của Ban:

  1. Lãnh đạo Ban gồm: Trưởng Ban và các Phó trưởng Ban
  2. Các Phòng nghiệp vụ:

+ Phòng Tổng hợp

+ Phòng Tài chính – kế toán

+ Phòng Hành chính quản trị

  1. Văn phòng các dự án: Mỗi dự án có Giám đốc dự án, Điều phối viên, Kế toán dự án và Cán bộ dự án

Giám đốc dự án có thể là lãnh đạo Ban kiêm nhiệm theo Quyết định bổ nhiệm của Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn.” (xem bút lục 39).

Quyết định số 4442/QĐ/BNN-TCCB ngày 24/09/2001 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã bổ nhiệm ông Dương Văn Xanh làm Trưởng ba quản lý các dự án nông nghiệp (xem bút lục 40).

 

Như vậy có cơ sở để khẳng định BQLCDANN là một pháp nhân và do ông Dương Văn Xanh là người đại diện theo pháp luật, dự án ASPS là một bộ phận trong cơ cấu tổ chức của pháp nhân BQLCDANN. Do đó việc việc ông Dương Văn Xanh ký ký văn bản ngày 01/12/2004 và ký HĐLĐ ngày 15/12/2004 với anh Phạm Xuân Dương là phù hợp về tư cách chủ thể.

 

Thứ 3: Sự kiện pháp lý là phát sinh quan hệ pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

Ngày 30/8/2005, ông Nguyễn Thế Hinh, điều phối viên quốc gia thuộc BQLCDANN và ông Ole Sparre Perdersen, cố vấn trưởng Chương trình người nước ngoài ra văn bản thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh Phạm Xuân Dương với lý do năng lực và trình độ của anh Dương không đáp ứng được các điều kiện công việc được giao. (BL.5).

Ông Nguyễn Thế Hinh đã được ông Dương Văn Xanh ủy quyền tại quyết định số 534/QĐBANN ngày 20/06/2005, theo đó ông Hinh được thừa ủy quyền quyền Trưởng Ban ký tên và đống dấu vào các văn bản phù hợp với chương trình hỗ trợ nông nghiệp (xem bút lục 25). Tại văn bản trả lời của ông Dương Văn Xanh cho anh Phạm Xuân Dương về việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ có khẳng định việc ông Hinh ký văn bản thông báo ngày 30/08/2005 là phù hợp với nội dung ủy quyền (xem bút lục 17, 18)

Như vậy việc ông Nguyễn Thế Hinh ký văn bản thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đông ngày 30/08/2005 đã làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động về đơn phương chấm dứt hợp đồng.

 

Thưa Hội đồng xét xử!

 

Từ những phân tích ở trên căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động và Khoản 1, Điều 12 Nghị định 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ về việc qui định chi tiết và hướng dẫn thực thiện các qui định của Bộ luật lao động về Hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối trong trường hợp người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc được giao. Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc được giao trong hợp đồng lao động là việc không hoàn thành định mức lao động hoặc nhiệm vụ được giao do yếu tố chủ quan và đã bị lập biên bản hoặc đã bị nhắc nhỡ bằng văn bản ít nhất hai lần trong một tháng, mà sau đó vẫn không khắc phục. Trong văn bản thông báo đơn phương chấm dứt HĐLĐ với anh Dương ngày 30/8/2005, BQLCDANN đã đưa ra lý do là “chúng tôi thấy rằng kết quả làm việc của ông không còn đáp ứng được các yêu cầu của ASPS” nhưng trước đó anh Phạm Xuân Dương chưa bị lập biên bản hoặc nhắc nhỡ bằng văn bản lần nào.

Do đó căn cứ để đưa ra thông báo đơn phương chấm dứt HĐLĐ của BQLCDANN với anh Phạm Xuân Dương là không đúng quy định của pháp luật. Vì vậy việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của BQLCDANN là trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

 

Căn cứ khoản 1, Điều 41 Bộ luật lao động qui định: “trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

Trong trường hợp người lao động không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồ thường qui định tại đoạn 1 của khoản này, người lao động còn được trợ cấp theo qui định tại Điều 42 Bộ luật này…”. Điều 42 Bộ luật quy định: “Khi cấm dứt HĐLĐ đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp …từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nữa tháng lương cộng phụ cấp lương (nếu có). Điều 141 Bộ luật lao động qui định về việc tham gia các loại bảo hiểm bắt buộc.

 

 Như vậy, các yêu cầu của anh Phạm Xuân Dương trong đơn khởi kiện hoàn toàn có cơ sở và có căn cứ pháp luật.

 

Thưa Hội đồng xét xử!

 

Như đã phân tích, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đồng thời thông qua kết quả hỏi công khai tai phiên tòa hôm nay, nhận thấy rằng các yêu cầu của nguyên đơn trong vụ án là hoàn toàn có cơ sở và căn cứ pháp lý. Do đó , tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng Điểm a, Khoản 1, Điều 38; Khoản 1, Đều 41 và Khoản 1, Điều 42 Bộ Luật Lao động tuyên buộc công ty Ban quan lý các dự án nông nghiệp (BQLCDANN) phải thanh toán cho thân chủ của tôi là anh Phạm Xuân Dương các khoản sau:

 

Thứ nhất:

Buộc BQLCDANN phải bồi thường một tiền lương trong những ngày anh Dương không được làm việc là 3,5 tháng lương (tính từ ngày 31/08/2005 đến tháng 15/12/2005 và một nửa tháng lương thứ 13 cùng với bồi thường 2 tháng lương. Tổng cộng là yêu cầu bồ thường 6 tháng lương, cụ thể: 650 USD x 6 tháng tính theo tỉ giá hiện tại quy ra là 85.000.000đ (Tám lăm triệu đồng VNĐ).

Tổng cộng là: 85.000.000đ (Tám lăm triệu đồng VNĐ).

 

Thứ hai:

Buộc BQLCDANN phải đóng BHXH,BHYT từ ngày 15/12/2004 đến hết 15/12/2005.

 

  Chân thành cảm ơn sự lắng nghe của Hội đồng xét xử và kinh mong Hội đồng xét xử xem xét, đành giá vụ án một cách công minh.

 

Trân trong kính chào,

 

LS. MAI XUÂN MINH

 

 

 

PHAÀN II – PHAÀN NHAÄN XEÙT TAÏI BUOÅI DIEÃN AÙN

(Thực hiện vai diễn Phạm Xuân Dương – Nguyên đơn trong vụ án)

 

About MAI XUÂN MINH

Đừng nói láo với con nít vì sau ni hắn sẽ tra và khun hơn mi!
This entry was posted in Khác and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s